Quần thể luôn thay đổi. Chúng tăng trưởng, suy giảm và dịch chuyển theo mùa và theo năm. Động lực học quần thể là ngành nghiên cứu về cách thức và lý do tại sao. Nó xem xét sự sinh sản, tử vong, nhập cư và xuất cư. Nó nghiên cứu cách các quần thể phản ứng với thức ăn, động vật ăn thịt, bệnh tật và thời tiết. Một số quần thể có chu kỳ đều đặn. Chuột lemming bùng nổ và suy giảm vài năm một lần. Thỏ tuyết và linh miêu tuân theo chu kỳ mười năm. Những quần thể khác phát triển ổn định cho đến khi đạt đến giới hạn, sau đó ổn định hoặc sụp đổ.
Có hai mô hình chính mô tả sự tăng trưởng. Tăng trưởng theo cấp số nhân xảy ra khi nguồn tài nguyên không giới hạn, tạo ra đường cong hình chữ J. Tăng trưởng theo hàm logistic xảy ra khi nguồn tài nguyên khan hiếm, tạo ra đường cong hình chữ S và chững lại ở mức sức chứa tối đa. Quần thể thực tế thường tăng quá mức và suy giảm. Việc tái thả sói vào Yellowstone đã làm thay đổi động lực quần thể nai sừng tấm. Quần thể hươu ở vùng ngoại ô tăng trưởng cho đến khi nguồn thức ăn hoặc bệnh tật hạn chế chúng. Hiểu được các mô hình này giúp các nhà quản lý quyết định khi nào cần can thiệp, liệu nên giảm bớt số lượng, bảo vệ hay để tự nhiên.
Điều gì thúc đẩy sự thay đổi dân số?
- Tỷ lệ sinh và tỷ lệ tử.
- Nhập cư và xuất cư.
- Nguồn thức ăn, nước uống và môi trường sống sẵn có.
- Động vật ăn thịt, bệnh tật và sự cạnh tranh.
Các quần thể không sống biệt lập. Chúng tương tác với các loài khác và với môi trường. Thay đổi một yếu tố và ảnh hưởng lan tỏa khắp hệ thống.
Comments
No comments yet. Be the first to share a thought.
Leave a comment