Một chính phủ có thể cấm giao thương với một quốc gia mục tiêu như một công cụ gây sức ép. Lệnh cấm đó được gọi là lệnh cấm vận. Nó có thể bao gồm tất cả hoạt động thương mại hoặc một số mặt hàng được chọn lọc như vũ khí, dầu mỏ hoặc hàng hóa xa xỉ.
Các lệnh cấm vận nhằm mục đích thay đổi hành vi của đối tượng bằng cách áp đặt chi phí kinh tế. Thành công phụ thuộc vào phạm vi tham gia, sự sẵn có của các thị trường thay thế và khả năng phục hồi chính trị của chế độ mục tiêu. Các lệnh cấm vận đơn phương dễ bị né tránh hơn các lệnh cấm vận đa phương. Các trường hợp ngoại lệ nhân đạo thường được đưa ra, mặc dù việc giám sát rất khó khăn.
Các lệnh cấm vận trong lịch sử đã mang lại những kết quả trái chiều. Một số góp phần vào các thỏa thuận được đàm phán; số khác lại củng cố vị thế của giới lãnh đạo mục tiêu và gây hại cho dân thường nhiều hơn là giới tinh hoa. Các ngành công nghiệp trong nước của quốc gia áp đặt lệnh cấm vận cũng có thể phải gánh chịu tổn thất. Các nhà hoạch định chính sách cân nhắc những sự đánh đổi này so với mong muốn tránh các lựa chọn quân sự.
Lệnh cấm vận chỉ có hiệu quả khi các bên thứ ba sẵn lòng tôn trọng nó.
Comments
No comments yet. Be the first to share a thought.
Leave a comment