Khi đá nóng chảy trồi lên bề mặt, nó được gọi là dung nham. Thuật ngữ này dùng để chỉ cả vật liệu nóng chảy và đá rắn hình thành khi nó nguội đi. Nhiệt độ của dung nham thường dao động từ khoảng 700 °C đến 1200 °C tùy thuộc vào thành phần.
Dung nham bazan có độ nhớt thấp có thể chảy quãng đường rất xa và tạo nên những ngọn núi lửa hình khiên rộng lớn. Dung nham andesit và rhyolit có độ nhớt cao hơn tích tụ gần miệng núi lửa và thường phun trào dữ dội. Các đặc điểm bề mặt như pahoehoe và aa phản ánh độ nhớt và lịch sử dòng chảy của dung nham bazan.
Dòng dung nham phá hủy mọi thứ trên đường đi nhưng cũng tạo ra những vùng đất mới. Các vết nứt nguội, cấu trúc rỗng và lớp vỏ thủy tinh ghi lại điều kiện hình thành. Các mẫu dung nham cung cấp thông tin trực tiếp về thành phần hóa học của magma mà nếu không sẽ vẫn ẩn giấu trong lớp vỏ hoặc lớp phủ.
- Đá nóng chảy phun trào lên bề mặt Trái đất.
- Nguội dần tạo thành đá magma phun trào
- Độ nhớt kiểm soát kiểu dòng chảy và kiểu phun trào.
- Tạo nên các dạng địa hình núi lửa và lớp vỏ Trái đất mới.
Comments (2)
Leave a comment