Quỹ chỉ số theo dõi một chỉ số thị trường. Ví dụ như S&P 500, FTSE 100, Nikkei 225. Thay vì cố gắng chọn ra những cổ phiếu thắng cuộc, quỹ mua tất cả các cổ phiếu trong chỉ số đó. Nếu chỉ số bao gồm 500 cổ phiếu, thì quỹ cũng nắm giữ 500 cổ phiếu. Kết quả là hiệu suất trung bình của thị trường, trừ đi một khoản phí rất nhỏ. Sự đơn giản đó đã khiến quỹ chỉ số trở thành một trong những đổi mới tài chính quan trọng nhất trong nhiều thập kỷ qua.
Quỹ chỉ số đầu tiên được ra mắt năm 1976, do John Bogle tại Vanguard sáng lập. Các nhà phê bình gọi đó là phi Mỹ. Tại sao phải chấp nhận mức trung bình? Nhưng các con số lại kể một câu chuyện khác. Hầu hết các nhà quản lý quỹ chủ động đều hoạt động kém hiệu quả hơn chỉ số sau khi trừ phí. Qua nhiều thập kỷ, khoảng cách này ngày càng nới rộng. Ngày nay, các quỹ chỉ số nắm giữ hàng nghìn tỷ đô la. Chúng thống trị các tài khoản hưu trí và đã định hình lại ngành quản lý tài sản.
Chi phí là yếu tố vô cùng quan trọng trong đầu tư theo chỉ số. Một quỹ được quản lý chủ động có thể tính phí 1% hoặc hơn mỗi năm. Một quỹ chỉ số có thể chỉ tính phí 0,03%. Với danh mục đầu tư 100.000 đô la, sự khác biệt đó là 970 đô la mỗi năm. Tính lãi kép trong 30 năm, con số này lên đến hàng trăm nghìn đô la. Quỹ chỉ số cũng tạo ra ít sự kiện chịu thuế hơn vì chúng giao dịch ít hơn. Đối với hầu hết các nhà đầu tư, lý do để đầu tư vào quỹ chỉ số là rất thuyết phục. Rủi ro chính là bạn sở hữu toàn bộ thị trường, bao gồm cả các bong bóng của nó.
Quỹ chỉ số phổ biến
- Quỹ chỉ số S&P 500
- Tổng quỹ thị trường chứng khoán
- Quỹ chỉ số quốc tế
- Quỹ chỉ số trái phiếu
- Quỹ chỉ số chuyên ngành
Comments (4)
Leave a comment