Trộn hai dung dịch trong suốt lại với nhau, ta sẽ thấy một chất rắn. Đó chính là sự kết tủa, sự hình thành chất rắn không tan từ dung dịch trong một phản ứng hóa học. Chất rắn này được gọi là kết tủa. Phản ứng xảy ra khi hai hợp chất tan trong nước phản ứng với nhau tạo thành một sản phẩm không tan. Ví dụ, trộn bạc nitrat và natri clorua sẽ tạo ra bạc clorua, một chất kết tủa màu trắng, và natri nitrat, chất này vẫn ở dạng hòa tan.
Hiện tượng kết tủa xảy ra khi nồng độ sản phẩm vượt quá giới hạn tan của nó. Các ion trong dung dịch kết hợp lại tạo thành chất rắn không thể tiếp tục hòa tan. Các quy tắc về độ tan dự đoán hợp chất nào tan được và hợp chất nào không. Hầu hết các muối nitrat đều tan được. Hầu hết các muối clorua đều tan được, ngoại trừ bạc, chì và thủy ngân. Hầu hết các muối cacbonat, photphat và sunfua đều không tan, ngoại trừ các muối của kim loại kiềm và amoni.
Trong hóa học, kết tủa được sử dụng để phân tích trọng lượng, trong đó khối lượng của chất kết tủa xác định lượng chất cần phân tích. Nó được sử dụng trong xử lý nước để loại bỏ kim loại nặng và phốt phát. Nó được sử dụng trong nhiếp ảnh để tráng phim. Nó được sử dụng trong y học để xét nghiệm một số bệnh. Nó được sử dụng trong công nghiệp để sản xuất chất màu, chất xúc tác và dược phẩm.
Sự kết tủa cũng là một quá trình tự nhiên. Nó tạo ra khoáng chất, nhũ đá và vỏ sò. Nó xảy ra trong cơ thể khi canxi photphat kết tủa trong xương và răng. Nó xảy ra trong thận khi canxi oxalat kết tủa thành sỏi. Chính những phản ứng hóa học giúp làm sạch nước cũng có thể gây ra bệnh tật.
Comments (2)
Leave a comment