Đặc điểm cấu trúc là một đặc điểm thể chất của sinh vật giúp nó tồn tại. Nó là một phần của cơ thể. Lông dày, móng vuốt sắc nhọn, cổ dài và màu sắc ngụy trang là những đặc điểm cấu trúc. Chúng là những đặc điểm di truyền. Chúng không phải là hành vi. Chúng là cấu tạo giải phẫu.
Sự thích nghi về cấu trúc tiến hóa qua nhiều thế hệ. Chiếc cổ dài của hươu cao cổ cho phép nó với tới những chiếc lá mà các loài động vật ăn cỏ khác không thể. Bộ lông trắng của gấu Bắc Cực hòa lẫn vào tuyết. Gai của cây xương rồng bảo vệ nó khỏi các loài động vật ăn cỏ và giảm sự mất nước. Mỗi đặc điểm đều giải quyết một vấn đề. Mỗi đặc điểm đều làm tăng khả năng thích nghi.
Ví dụ về sự thích nghi về cấu trúc
- Màu ngụy trang: màu sắc hòa lẫn với môi trường xung quanh.
- Bắt chước: hành vi giống với loài khác để tự bảo vệ.
- Móng vuốt hoặc răng sắc nhọn: dùng để bắt mồi.
- Thân hình thuôn dài: để di chuyển trong nước hoặc không khí.
- Lông dày hoặc lớp mỡ dày: dùng để giữ ấm trong điều kiện khí hậu lạnh.
Sự thích nghi về cấu trúc là kết quả của chọn lọc tự nhiên. Các sinh vật có đặc điểm có lợi sẽ sống sót và sinh sản. Con cái của chúng thừa hưởng những đặc điểm đó. Theo thời gian, những đặc điểm này trở nên phổ biến hơn. Đó chính là sự tiến hóa. Sự thích nghi về cấu trúc có thể rất tinh tế. Hình dạng mỏ của một loài chim quyết định thức ăn mà nó có thể ăn. Chim sẻ Darwin là một ví dụ điển hình. Mỗi loài đều có một chiếc mỏ phù hợp với nguồn thức ăn của nó. Mỏ là sự thích nghi về cấu trúc. Chúng không phải là thứ được học hỏi mà là thứ được di truyền. Sự thích nghi về cấu trúc và sự thích nghi về hành vi hoạt động cùng nhau. Cánh của chim là sự thích nghi về cấu trúc. Sự di cư là hành vi. Đôi cánh giúp cho sự di cư trở nên khả thi. Hành vi này sử dụng đôi cánh. Cả hai cùng nhau giúp chim sống sót. Sự thích nghi về cấu trúc là giải pháp của cơ thể đối với những thách thức của môi trường. Chúng được ghi trong gen và được định hình bởi chọn lọc.
Comments
No comments yet. Be the first to share a thought.
Leave a comment