Khớp háng nhân tạo có thể sử dụng đến 20 năm. Chỉ khâu tự tiêu biến mất sau khi vết thương lành. Kính áp tròng cho phép oxy đi qua giác mạc. Đây là các vật liệu sinh học, những vật liệu được thiết kế để tương tác với hệ thống sinh học nhằm mục đích y tế. Chúng có thể là tự nhiên hoặc tổng hợp, vĩnh cửu hoặc có thể phân hủy sinh học. Yêu cầu chung là khả năng tương thích sinh học: chúng không được gây hại cho cơ thể và cơ thể không được phá hủy chúng.
Vật liệu sinh học được chia thành nhiều loại. Kim loại như titan và coban-crom rất bền và chống ăn mòn, lý tưởng cho việc thay thế khớp và cấy ghép nha khoa. Gốm sứ như hydroxyapatite bắt chước khoáng chất xương và liên kết trực tiếp với xương. Polyme như PLGA có khả năng phân hủy sinh học và được sử dụng cho chỉ khâu, vận chuyển thuốc và khung đỡ mô. Vật liệu composite kết hợp các vật liệu để có được những đặc tính tốt nhất của từng loại.
Thiết kế vật liệu sinh học là một quá trình cân bằng. Nó phải có các đặc tính cơ học phù hợp với ứng dụng. Cấy ghép xương phải chịu được tải trọng mà không bị uốn cong quá mức. Vật liệu ghép mạch máu phải linh hoạt và không gây đông máu. Vật liệu cũng phải có khả năng chống nhiễm trùng, mài mòn và phân hủy. Và nó phải dễ sản xuất và khử trùng.
Lĩnh vực này đang hướng tới các vật liệu thông minh hơn. Stent giải phóng thuốc giúp ngăn ngừa hẹp mạch tái phát. Hợp kim nhớ hình dạng giãn nở ở nhiệt độ cơ thể. Hydrogel tự phục hồi tự sửa chữa sau khi bị hư hại. Vật liệu không còn thụ động nữa. Nó là một phần của liệu pháp điều trị.
Comments
No comments yet. Be the first to share a thought.
Leave a comment